Thứ Sáu, 29 tháng 6, 2012

Lưới lửa bảo vệ bầu trời Tổ quốc



Cùng với sự phát triển các quân binh chủng khác, bộ đội Phòng không – Không quân đang tiếp tục xây dựng bước lên chính quy, từng bước hiện đại bảo vệ vững chắc bầu trời tổ quốc.
Lực lượng phòng không Việt Nam gồm các lực lượng tên lửa, cao xạ, radar rèn luyện kỹ năng tác chiến đối không hiệu quả.
Trên trận địa các đơn vị phòng không huấn luyện bài bản, chính quy, thể hiện qua các bài tập nắm chắc thao tác nhiệm vụ của từng vị trí, nâng cao chất lượng huấn luyện đội ngũ cán bộ các cấp, kỹ thuật viên, nhân viên chuyên môn và các kíp chiến đấu sở chỉ huy, huấn luyện đêm và tăng cường huấn luyện đội ngũ chiến thuật phân đội, huấn luyện sát nhiệm vụ bảo đảm duy trì nhiệm vụ quản lý bảo vệ tổ quốc.
Các loại vũ khí phòng không của Việt Nam được cải tiến nâng cấp đủ khả năng đáp ứng trong tác chiến hiện đại. Ví dụ điển hình, hệ thống tên lửa phòng không tầm trung S-125 Pechora được nâng cấp lên chuẩn Pechora-2TM (giây 33), với việc này nó đã tăng sức chiến đấu đáng kể của S-125.
Pechora-2TM có khả năng bắt bám, tiêu diệt nhiều mục tiêu cùng lúc, thời gian triển khai và thu hồi hệ thống không quá 10 phút (vượt xa hệ thống chưa nâng cấp), khả năng kháng nhiễu trong môi trường tác chiến điện tử cao.
Cuối năm 2011, trong đợt diễn tập bắn đạn thật lớn của Quân chủng phòng không – không quân, S-125-2TM đã đưa ra bắn thử nghiệm và đạt kết quả cao (phút 1,37 – đạn tên lửa Pechora-2TM rời bệ). Ngoài S-125-2TM, Việt Nam thực hiện nâng cấp tổ hợp phòng không tầm ngắn tự hành 9K35 Strela 10 (giây 26).

Bộ đội phòng không – không quân huấn luyện chiến đấu.
Việt Nam cũng trang bị một số khí tài mới như hệ thống phòng không tầm cao S-300 (phút 1,50-2,24) đáp ứng yêu cầu bảo vệ bầu trời trong bối cảnh các máy bay trên thế giới ngày càng hiện đại thiết kế hệ thống phòng vệ chống tên lửa tiên tiến.
Bên cạnh đó, lực lượng phòng không duy trì sử dụng các loại khí tài đối không cũ hơn như pháo tự hành ZSU-23-4, pháo hai nòng 37mm, 57mm. Tuy những khí tài này đã cũ nhưng nó vẫn đóng vai trò quan trọng trong lưới lửa tầm thấp bảo vệ tổ quốc.
Đối với lực lượng “mắt thần” radar giám sát, cảnh giới trên mọi tầm, mọi hướng của phòng không Việt Nam cũng từng bước hiện đại hóa với hệ thống radar thế hệ mới như: đài radar cảnh giới RV-01/Vostock E (phút 1,45), đài radar cảnh giới Nebo-UE, hệ thống trinh sát điện tử thụ động Kolchuga. Những loại radar này đều có khả năng “bắt” máy bay tàng hình hiện có trên thế giới.
Cùng với phòng không, Không quân Việt Nam cũng từng bước xây dựng hiện đại, đội ngũ phi công được đào tạo bài bản, được truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu, cập nhật thông tin khí tài tiên tiến và những chiến thuật bay mới.
Trong biên chế Không quân Việt Nam, ngoài hệ máy bay cũ MiG-21, Su-22M3/M4/UM3 (phút 2,26-2,45). Việt Nam còn mua sắm thêm chiến đấu cơ thế hệ mới Su-30MK2V (phút 3,06) có khả năng thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau.
Đặc biệt, Su-30MK2V có thể mang tên lửa không đối hải uy lực mạnh để hỗ trợ Hải quân bảo vệ lãnh hải tổ quốc (phút 3,44 – Su-30MK2V phóng tên lửa không đối hạm Kh-31P trúng mục tiêu.
Bài học kinh nghiệm của thế hệ đi trước, cùng tinh thần dũng cảm, mưu trí sáng tạo và ý chí quyết thắng là cơ sở để Không quân Việt Nam vận dụng sáng tạo trong xây dựng, huấn luyện lực lượng bảo vệ vững chắc bầu trời tổ quốc.

Trung Quốc: Quân đội Việt Nam đứng đầu Đông Nam Á



“Thực lực quân sự Việt Nam đã được nâng lên một cách vững chắc, quân số đông, tác chiến mạnh, sức chiến đấu và sức mạnh tổng hợp đều đứng đầu các nước Đông Nam Á”.
Quân đội Nhân dân Việt Nam
Quân đội Nhân dân Việt Nam

1. Thực lực quân sự đứng đầu Đông Nam Á

Tạp chí Ngoại giao của Trung Quốc nhận định như trên và phân tích thêm: lực lượng vũ trang của Việt Nam chủ yếu bao gồm quân đội nhân dân và dân quân tự vệ, còn có cả cảnh sát biển và công an nhân dân. Quân đội nhân dân Việt Nam thành lập năm 1944, lúc đầu chỉ có 34 người, gọi là “Đội tuyên truyền giải phóng quân” Việt Nam, trải qua các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và giải phóng miền Nam, đến nay quy mô và sức mạnh chiến đấu không ngừng lớn mạnh.
Theo “Sách Trắng Quốc phòng” công bố năm 2009 của Việt Nam, hiện nay lực lượng thường trực của quân đội Việt Nam (bao gồm cả bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương) có tổng cộng 450 nghìn người, lực lượng dự bị khoảng 5 triệu người.
Bộ đội chủ lực là thành phần cốt cán của quân đội nhân dân Việt Nam , bao gồm lục quân, hải quân, phòng không không quân, bộ đội biên phòng.
Lục quân Việt Nam hiện chia thành 8 Quân khu, một số Quân đoàn, Sư đoàn bộ binh, Lữ đoàn tăng thiết giáp, Lữ đoàn tác chiến đặc chủng, Lữ đoàn pháo binh dã chiến, Sư đoàn công binh, Sư đoàn xây dựng kinh tế.
Tên lửa S-300PMU1 của quân đội Nhân dân Việt Nam (ảnh:QĐND)
Tên lửa S-300PMU1 của quân đội Nhân dân Việt Nam (ảnh:QĐND)
Trang bị vũ khí chủ yếu gồm có 850 xe tăng chiến đấu chủ lực T-54/55, 300 xe tăng hạng nhẹ PT-76, 100 xe trinh sát thiết giáp BRDM-1/2, 300 xe chiến đấu bộ binh BMP-1/2, 1.100 xe thiết giáp chở quân BTR-40/50/60/152, khoảng 2.300 cỗ pháo kéo xe và một số dàn phóng tên lửa, pháo cao xạ, pháo tự hành, tên lửa chống tăng và tên lửa đất đối không.
Hải quân Việt Nam thành lập năm 1955, hiện biên chế thành 4 vùng hải quân ven biển, trang bị chủ yếu gồm hai tàu ngầm mini mua của Bắc Triều Tiên năm 1977, 6 tàu hộ vệ, 2 tàu hộ vệ hạng nhẹ “Cheetah”, 37 tàu tuần tra và một số tàu rà quét thủy lôi, tàu đổ bộ và tàu tiếp tế hậu cần.
Phòng không không quân Việt Nam thành lập năm 1963, được sáp nhập từ Bộ Tư lệnh phòng không và Cục không quân, hiện được biên chế thành một số Sư đoàn phòng không và Sư đoàn không quân, bên dưới có Trung đoàn máy bay tấn công, Trung đoàn máy bay tiêm kích, Trung đoàn máy bay vận tải, Trung đoàn pháo cao xạ, Trung đoàn rađa.
Trang bị chủ yếu gồm có 140 máy bay MiG-21, 7 máy bay SU-27SK, 4 máy bay SU-30MKK, 53 máy bay SU-22, 4 máy bay chống tàu ngầm Be –12, 26 trực thăng chống tăng MiG-24, 10 trực thăng chống tàu ngầm Ka-28 và một số máy bay huấn luyện, tên lửa không đối không, không đối đất, đất đối không.
Hải quân Việt Nam vùng IV luyện tập
Hải quân Việt Nam vùng IV luyện tập
Bộ đội biên phòng Việt Nam thành lập năm 1959, có chức năng cơ bản là thực hiện quản lý biên giới quốc gia, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo vệ biên giới trên bộ, hải đảo, vùng biển và trật tự an ninh ở khu vực cửa khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.
Ngoài quân đội nhân dân, dân quân tự vệ Việt Nam cũng là bộ phận cấu thành chủ yếu của lực lượng vũ trang Việt Nam. Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng vẫn ở vị trí sản xuất và công tác, thời bình là lực lượng lao động sản xuất chính, thời chiến là lực lượng chiến lược của chiến tranh nhân dân.
Dân quân tự vệ chủ yếu thuộc các loại hình bộ binh, phòng không, pháo binh, công binh, trinh sát, giao thông, phòng chống hóa học, điều trị y tế và dân quân tự vệ trên biển, trong đó dân quân tự vệ trên biển mới được thành lập từ năm 2009 nhằm đối phó với những đe dọa an ninh trên biển.
Việt Nam còn có lực lượng cảnh sát biển, thành lập năm 1998. Vì thế, Việt Nam hiện nay có ba bộ phận lực lượng vũ trang trên biển là hải quân, cảnh sát biển và dân quân tự vệ biển, cho thấy Việt Nam hết sức coi trọng an ninh trên biển.

2. Chú trọng Biển Đông, đẩy nhanh hiện đại hóa hải quân không quân

Từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, Việt Nam đã bắt đầu tiến trình hiện đại hóa quân đội. Sau sự kiện khủng bố ngày 11/9, nhất là từ khi Mỹ phát động cuộc chiến tranh cục bộ kỹ thuật cao đối với Irắc, Việt Nam đã ý thức được rằng hình thái chiến tranh trong tương lai sẽ có thay đổi to lớn, vũ khí trang bị truyền thống và dạng thức tác chiến truyền thống đã không thể thích hợp với yêu cầu chiến tranh trong tương lai.
Mục tiêu tổng thể trong xây dựng quân đội của Việt Nam là “Cách mạng hóa, chính quy hóa, tinh nhuệ hóa và từng bước hiện đại hóa”.
Chiến hạm hiện đại nhất của Hải quân Việt Nam
Chiến hạm hiện đại nhất của Hải quân Việt Nam
Vì thế, Việt Nam đã mở rộng chi phí quốc phòng, từ chỗ chú trọng xây dựng quy mô chuyển sang xây dựng chất lượng quân đội, chú trọng nguyên tắc phát triển phối hợp giữa các quân binh chủng và ưu tiên phát triển hải quân – không quân, đồng thời tiếp tục tăng cường xây dựng lực lượng dự bị như dân quân tự vệ.
Việt Nam bắt đầu thực hiện phương châm chiến lược “thu hẹp lục quân mở rộng hải quân”, coi việc bảo vệ lãnh thổ trên biển và tài nguyên biển là trọng tâm của chiến lược quân sự mới, tăng cường một cách có trọng điểm khu vực ven biển miền Trung Nam Bộ và bố trí binh lực ở các đảo mà Việt Nam đã chốt giữ , làm nổi bật nhiệm vụ xây dựng hải quân và không quân.
Tàu chiến Moliya
Tàu chiến Moliya
Năm 2001, Việt Nam đã cho ra đời “Kế hoạch hiện đại hóa lực lượng vũ trang thế kỷ mới”, đề xuất thay đổi toàn diện vũ khí trang thiết bị của ba quân chủng lục quân, hải quân và không quân, trọng tâm là ưu tiên đảm bảo hiện đại hóa phòng không không quân và hải quân, đồng thời lắp đặt các loại trang thiết bị cảnh báo, trinh sát, chỉ huy, cơ động và đảm bảo cung cấp hậu cần.
“Sách Trắng Quốc phòng” năm 2009 của Việt Nam cũng nhiều lần nhấn mạnh phải xây dựng quân đội hiện đại hóa có trang bị vũ khí tiên tiến, trong khi tự nghiên cứu chế tạo, liên hợp sản xuất trang thiết bị, đồng thời mua sắm khối lượng lớn vũ khí trang thiết bị tiên tiến của nước ngoài, nâng cao tính năng vũ khí trang thiết bị của bản thân, trong đó mua sắm vũ khí trang thiết bị cho hải quân và phòng không không quân đã chiếm tỉ lệ rất lớn.
Hình ảnh Su-30MK2 mới của Việt Nam trên báo Trung Quốc
Hình ảnh Su-30MK2 mới của Việt Nam trên báo Trung Quốc
Cuối năm 2003, Việt Nam đã đặt mua của Nga 4 máy bay chiến đấu SU-30MK đa tính năng. Đồng thời, không quân Việt Nam đã hợp tác với Ixraen và Nga cải tiến hệ thống rađa của máy bay MiG-21, lắp đặt trên máy bay thiết bị trinh sát chụp ảnh ban đêm. Năm 2005, Việt Nam lại đặt mua hệ thống tên lửa phòng không S-300PMU1 trang bị cho một số đại đội pháo binh.
Không quân Việt Nam còn mua máy phản lực huấn luyện L-39C/máy bay tấn công hạng nhẹ của Séc, nhập khẩu một bộ phận máy bay luấn luyện KT-1, T-50 của Hàn Quốc và Ba Lan.
Tháng 3/2005, Việt Nam và Ba Lan đã ký Hiệp định mua vũ khí trị giá 150 triệu USD, mua 12 chiếc máy bay tuần tra trên biển M-28, 4 máy bay trực thăng cứu hộ trên biển W-3RM và 8 hệ thống trinh sát trên biển MSC-400 của Ba Lan. Năm 2009, Việt Nam lại ký hiệp định với Nga, mua của Nga 12 máy bay chiến đấu đa chức năng SU-30MK2.
Su-27 của Không quân Việt Nam
Su-27 của Không quân Việt Nam
Để thích ứng với yêu cầu đặt ra trong tương lai, Hải quân Việt Nam đã có kế hoạch phát triển ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, hy vọng đến trước năm 2015 sẽ hoàn thành đổi mới trang thiết bị, để Hải quân Việt Nam trở thành một lực lượng hải quân trên biển hiện đại có đầy đủ các binh chủng, có khả năng tác chiến cơ động và khả năng tấn công hỏa lực tầm xa tương đối mạnh, đến trước năm 2050 sẽ hình thành một lực lượng tác chiến đa chiều độc lập ở biển xa.
Từ năm 1995 đến nay, Hải quân Việt Nam đã lần lượt đặt mua hơn 10 chiếc tàu chiến mang tên lửa có tên “Poisonous spider” của Nga, 12 chiếc tàu tuần tra của Thụy Điển, 2 tàu ngầm mini của Bắc Triều Tiên.
Tàu ngầm Kilo 636
Tàu ngầm Kilo 636
Sau năm 2000, Việt Nam bắt đầu mua tàu mặt nước cỡ lớn của nước ngoài. Năm 2003, Việt Nam đã ký hiệp định trị giá 120 triệu USD với Nga, có kế hoạch mua của Nga 12 chiếc tàu chiến tốc độ cao mang tên lửa có tên “Lightning”.
Việt Nam còn mua các loại tàu tấn công/tuần tra tốc độ cao của Hàn Quốc có các tên “Dolphin”/ “Wildcat”; mua của Ba Lan 4 tàu hộ vệ hạng nhẹ “Miners”, 1 tàu huấn luyện “Nick Ward”, 8 tàu tuần tra bờ biển “Pilica”, và một tàu tuần tra cỡ lớn “Aubrey Lutz” đã cải tiến.
Năm 2007, Việt Nam lại mua của Nga 2 tàu hộ vệ “Cheetah” và một hệ thống tên lửa chống hạm trên bờ mới nhất để lắp ráp tên lửa hành trình chống hạm có tốc độ siêu âm “Ruby”.
Để khắc phục những bất cập về năng lực tác chiến dưới nước, năm 2009, Việt Nam đã ký một hợp đồng lớn với Nga, mua 6 chiếc tàu tàu ngầm lớp “KILO” chạy bằng động cơ diezen trị giá 1,8 tỉ USD, đồng thời chuẩn bị thành lập lực lượng tàu ngầm.
Việt Nam đang đẩy mạnh giao lưu hợp tác với nhiều quốc gia trên thế giới trên lĩnh vực quân sự
Việt Nam đang đẩy mạnh giao lưu hợp tác với nhiều quốc gia trên thế giới trên lĩnh vực quân sự
Bên cạnh việc mua sắm vũ khí của Nga, Việt Nam cũng tăng cường hợp tác quân sự với nhiều quốc gia trên thế giới nhằm mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị nâng tầm của Việt Nam trên trường quốc tế và trong khu vực ít nhất là trong lĩnh cực quân sự.
Hương Trà (theo tạp chí Tri thức thế giới, nghiên cứu biển Đông, tạp chí Bộ ngoại giao Trung Quốc)

Thứ Năm, 28 tháng 6, 2012

TQ dùng vụ '9 lô dầu khí' để trả đũa Việt Nam


Nhiều học giả quốc tế khẳng định các lô dầu khí mà CNOOC mời thầu tại 9 lô trên Biển Đông nằm trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam.
 
GS Carlyle Thayer.
Tại cuộc hội thảo quốc tế về Biển Đông ngày 27/6 tại thủ đô Washington, Mỹ, một số học giả quốc tế đã khẳng định các lô dầu khí mà Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) mời thầu thăm dò - khai thác tại 9 lô trên Biển Đông nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
 
Hành động này của Trung Quốc đã được ông Carlyle Thayer, giáo sư của Học viện Quốc phòng Australia, nêu ra trong phiên thảo luận về các diễn biến gần đây trên Biển Đông.
Ông khẳng định rằng các lô dầu khí do CNOOC mời thầu đều nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam.
Trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN sau đó, ông Thayer cho rằng Trung Quốc đã trả đũa việc Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Biển bằng cách mời thầu thăm dò, khai thác tại các lô, "tất cả đều nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam." Ông cũng cho rằng đây là một hành động chính trị, nhiều hơn là một hành động có tính thương mại.

Cùng chung quan điểm, tiến sỹ Bonnie Glasser, chuyên gia về châu Á của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), Mỹ, cảnh báo rằng bất cứ công ty dầu khí nước ngoài nào có ý định tham gia thầu với Trung Quốc tại các lô nằm trong vùng thềm lục địa của Việt Nam đều phải thấy mức độ rủi ro rất cao và phải "suy nghĩ hai lần" trước khi quyết định.
Trước đó, học giả Việt Nam, tiến sỹ Trần Trường Thủy, cũng đề cập đến diễn biến mới nhất này. Ông đưa ra bản đồ 9 lô trên Biển Đông mà Trung Quốc mời thầu, khẳng định các lô này đều nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và không phải là khu vực tranh chấp.
Nhận xét về Luật Biển mới được Quốc hội Việt Nam thông qua, giáo sư Thayer khẳng định đây là một "diễn biến rất tích cực" vì Việt Nam muốn và cần thiết phải khai thác biển của mình. Ông nói "đến năm 2025, một nửa GDP của Việt Nam là từ biển, vì vậy Việt Nam cần luật để điều chỉnh và xác định rõ ràng nhiệm vụ của các cấp, các ngành.
Trong buổi thảo luận về các diễn biến gần đây trên Biển Đông, các học giả Philippines và Trung Quốc tranh cãi khá gay gắt về vấn đề chủ quyền tại bãi Scarborough, nơi mới xảy ra căng thẳng giữa hai nước.
Cuộc hội thảo diễn ra trong hai ngày 27 và 28/6, do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế tổ chức.
Các học giả từ nhiều nước, bao gồm Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Indonesia, Singapore, Ấn Độ, Nhật Bản, Mỹ thảo luận ở nhiều chủ đề, từ các diễn biến gần đây trên Biển Đông, vấn đề Biển Đông trong quan hệ Mỹ-Trung Quốc-ASEAN, luật pháp và tập quán quốc tế trong giải quyết tranh chấp...

Nguồn : BAODATVIET.VN

Cam Ranh bị 'vây' bởi các lô dầu khí TQ mời thầu trái phép


Petrovietnam vừa tổ chức họp báo yêu cầu Trung Quốc hủy việc mời thầu sai trái.

Chiều 27/6, tại Hà Nội, Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) Đỗ Văn Hậu đã họp báo về việc Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) công bố mời thầu quốc tế 9 lô dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
Tại cuộc họp báo, ông Đỗ Văn Hậu thông báo từ ngày 23/6/2012, mạng tiếng Trung và tiếng Anh của CNOOC đã công bố mời thầu 09 lô dầu khí hợp tác thăm dò khai thác trong năm 2012 với các công ty nước ngoài, với tổng diện tích của khu vực này là 160.129,38km 2. Qua kiểm tra tọa độ do phía Trung Quốc công bố, các lô này nằm sâu vào thềm lục địa của Việt Nam, chồng lên các lô từ 128 đến 132 và từ 145 đến 156 mà Petrovietnam đã và đang tiến hành các hoạt động dầu khí từ lâu nay. 
Bản đồ cho thấy 9 lô dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Đặc biệt, các lô này "phủ kín" khu vực phía trước Vịnh Cam Ranh, nơi có quân cảng nước sâu chiến lược của Hải quân Nhân dân Việt Nam.

Ông Đỗ Văn Hậu khẳng định: CNOOC đã thông báo chào thầu quốc tế tại 09 lô dầu khí nằm tr ong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam. Đây hoàn toàn không phải là khu vực có tranh chấp. Đây là việc làm sai trái, không có giá trị, trái với Công ước Liên hợp quốc 1982 về Luật Biển và không phù hợp với thông lệ dầu khí quốc tế. Hành động này đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia của Việt Nam, làm phức tạp thêm tình hình và gây căng thẳng ở Biển Đông. Tổng giám đốc Petrovietnam nhấn mạnh Petrovietnam cực lực phản đối và yêu cầu CNOOC hủy bỏ ngay hoạt động mời thầu sai trái trên, nghiêm túc tuân thủ thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc, tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là công ước Liên hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 và tinh thần tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).
Petrovietnam đề nghị các công ty dầu khí quốc tế không tham gia dự thầu 09 lô dầu khí mà CNOOC gọi thầu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.
Petrovietnam luôn coi tr ọng quan hệ hợp tác hữu nghị với Trung Quốc và coi trọng hợp tác hữu nghị với CNOOC. Trên thực tế, Petrovietnam và CNOOC đã ký và triển khai một số thỏa thuận hợp tác tr ong lĩnh vực dầu khí. Petrovietnam hoan nghênh CNOOC và các công ty dầu khí Trung Quốc tham gia hợp tác cùng Petrovietnam trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam như đối với các đối tác nước ngoài khác.
Trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết Petrovietnam đã có giao thiệp gì với CNOOC về sự việc này, Tổng Giám đốc Đỗ Văn Hậu cho biết việc làm này của CNOOC không chỉ vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam mà còn vi phạm thoả thuận giữa CNOOC và PVN. Petrovietnam sẽ sớm có văn bản phản đối chính thức gửi tới lãnh đạo CNOOC về việc này.
Về câu hỏi liên quan đến hoạt động hợp tác giữa Petrovietnam và các đối tác tại 9 lô dầu khí này và các điều kiện mà các công ty nước ngoài hợp tác với PVN cần tuân thủ, Tổng Giám đốc Đỗ Văn Hậu cho biết hiện Tập đoàn đã có hợp tác với Công ty Dầu khí Quốc gia Ấn Độ (ONGC) tại Lô 128; Tập đoàn Gazprom (Nga) tại các Lô từ 129 đến 133; Tập đoàn Exxon Mobil (Mỹ) tại các Lô từ 156 đến 158 và Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP -đơn vị thành viên của Petrovietnam) tại các Lô 148, 149.
Ngoài các điều kiện đã được quy định trong Luật Đầu tư nước ngoài của Chính phủ Việt Nam, các công ty nước ngoài hợp tác với Petrovietnam phải đảm bảo về kinh nghiệm và nguồn lực cho các hoạt động dầu khí, đặc biệt là phải tuyệt đối tôn trọng chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam; phù hợp với Luật pháp Việt Nam và Công ước Liên hợp quốc năm 1982 về Luật Biển.
Trả lời câu hỏi của phóng viên về ảnh hưởng của hành động này của CNOOC đối với các hoạt động dầu khí của PVN và các đối tác, Tổng Giám đốc Đỗ Văn Hậu khẳng định khu vực 09 lô dầu khí mà CNOOC gọi thầu là khu vực hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Petrovietnam và các đối tác sẽ tiếp tục triển khai các hoạt động dầu khí phù hợp với các hợp đồng dầu khí đã ký và luật pháp của Việt Nam và sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng của Việt Nam bảo đảm cho các hoạt động này triển khai thuận lợi.
Ngày 26/6, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị nêu rõ: "Trước hết cần khẳng định khu vực mà Tổng Công ty dầu khí hải dương Trung Quốc thông báo mở thầu quốc tế nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Đây hoàn toàn không phải là khu vực có tranh chấp."
Ông Lương Thanh Nghị khẳng định, việc phía Trung Quốc ngang nhiên mời thầu quốc tế tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam là hành động phi pháp và không có giá trị, xâm phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia chính đáng của Việt Nam, vi phạm Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 mà chính Trung Quốc là quốc gia thành viên, làm phức tạp tình hình và gây căng thẳng ở Biển Đông.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nhấn mạnh, Việt Nam cực lực phản đối và yêu cầu phía Trung Quốc hủy bỏ ngay việc mời thầu sai trái trên, không có hành động làm phức tạp tình hình ở Biển Đông và mở rộng tranh chấp, nghiêm túc tuân thủ Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc, tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).
Nguồn BAODATVIET.VN

Không xuất khẩu được, J-8 'nghỉ hưu'


Trung Quốc bắt đầu cho J-8 nghỉ hưu sau khi các nỗ lực xuất khẩu mẫu máy bay này thất bại.
(ĐVO) Không có bất kỳ lời công bố chính thức nào nhưng Trung Quốc đang bắt đầu cho mẫu máy bay chiến đấu J-8 nghỉ hưu. 

Trước đó, mẫu máy bay này được Trung Quốc nâng cấp và cố gắng bán ra nước ngoài tuy nhiên không có nước nào mua. 

Trung Quốc cũng không thể bán phá giá J-8 vì tin rằng thiết kế tuy cũ những J-8 có thể sử dụng được trong một thời gian dài, miễn cất cánh được.

Rất nhiều mẫu J-8 đã được Trung Quốc nâng cấp thành máy bay ném bom thông minh, sử dụng loại bom điều khiển bằng laser.  Không những thế, J-8II còn được trang bị tên lửa chống radar nhằm chống lại hệ thống phòng không của đối phương.

Ngoài 2 giá treo mang bom mới dưới thân máy bay và trên cánh, J-8II được trang bị thêm radar mới hỗ trợ tìm và diệt các mục tiêu mặt đất. 

Tuy vậy, trong mắt các chuyên gia quân sự thế giới, J-8 vẫn là thiết kế hỏng, ít linh hoạt hơn "bản gốc" MiG-21. Khả năng cơ động của J-8 càng giảm khi mang thêm bom. 
J-8 bắt đậu được nghỉ hưu.
 J-8 cất cánh lần đầu tiên vào năm 1969 và không được đưa vào phục vụ cho đến năm 1980. Giới quân sự thế giới nhanh chóng nhận ra, J-8 chỉ là một "chú gà tây".

Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn tận dụng tối đa J-8 cho hoạt động do thám, chiến tranh điện tử và sử dụng trong hải quân. Chỉ có khoảng 400 chiếc J-8 được sản xuất. 

Sự kiện nổi bật mà J-8 góp mặt là sự kiện đảo Hải Nam hồi năm 2001. Khi đó, 1 chiếc J-8 đã bay quá sát máy bay do thám EP-3 của Mỹ và bị rơi. Chiếc EP-3 đã phải hạ cánh khẩn cấp xuống Trung Quốc. 

Đến đầu năm 2011, vẫn còn khoảng 300 chiếc J-8 vẫn còn phục vụ trong quân đội Trung Quốc, chủ yếu trong hải quân.
Nguồn BAODATVIET.VN